꿈과 욕망의 둥지, 우리 시대의 집 – Ngôi nhà của thời đại chúng ta: Tổ ấm của Giấc mơ và Khát vọng

0
520

셋방은 한때 대도시 주민들의 흔한 주거 방식이었고, 셋방살이는 ‘고단한 삶’의 상징처럼 여겨졌다. 그러나 서러움만 있는 것은 아니었다. 여러 가구가 한 지붕 아래 어울려 살며 엮어갔던 훈훈하고 다채로운 삶의 이야기들도 있었다. 이제 아파트가 전체 주택의 60%를 넘고 전반적인 생활 수준도 높아지며 셋방은 지난날의 추억이 되어 가고 있는 듯하다.

Phòng trọ là hình thức nhà ở thường gặp của người dân thành thị một thời, cuộc sống phòng trọ được xem như là biểu tượng của “cuộc sống chật vật”. Tuy nhiên, đó không hẳn là những câu chuyện u sầu. Cũng có những chuyện đời ấm cúng và muôn màu mà mấy hộ gia đình cùng chung sống hòa hợp dưới một mái nhà. Thời nay, căn hộ chung cư chiếm hơn 60% tổng số loại hình nhà ở, mức sống cơ bản của người dân cũng gia tăng. Có vẻ giờ đây, phòng trọ đang dần đi vào ký ức của những tháng ngày đã xa.

큰아버지 댁 문간방에서 신접살림을 차렸다가 오빠를 낳은 부모님은 50년 전 이웃집 셋방으로 독립을 했다. 이사한 집은 대문이며 마당이 컸다. 집은 ㄷ자 모양이었는데, 가운데 주인집이 있고 양쪽으로 셋방들이 있었다. 그중 오른쪽 끝, 작은 쪽마루가 달린 방이 우리 집이었다.

Cách đây 50 năm, bố mẹ tôi bắt đầu cuộc sống gia đình mới ở phòng cạnh cổng trong nhà bác cả. Sau khi sinh anh trai, bố mẹ đã tách ra thuê phòng riêng. Nhà mới chuyển đến có cổng và sân rộng. Gian nhà có hình chữ U, nhà chủ ở giữa và hai bên là phòng cho thuê. Trong đó, phòng cuối cùng ở dãy bên phải, có một cái hiên nhỏ là nhà của chúng tôi.

어머니는 지금도 “부엌살림이라곤 판자로 만든 허술한 찬장과 석유 풍로가 전부였다.”고 당시의 형편을 종종 회상하곤 한다. 그러고는 주인집 아주머니나 같이 세를 사는 사람들 모두 아기였던 오빠를 예뻐해서 서로 업으려 했다는 말도 잊지 않고 덧붙인다. 나는 그 집에서 태어났다. 가끔 그때의 풍경을 상상해 보곤 한다. 2월 말이었으니 아직 쌀쌀했을 테고, 출산이 임박했으니 연탄도 아끼지 않고 땠을 것이다. 나의 궁금증은 “나를 처음으로 받은 사람은 누구였을까?”, “내 울음소리를 들은 사람들은 무슨 생각을 했을까?”로 이어지곤 한다.

Đến tận bây giờ, mẹ vẫn hay hồi tưởng về hoàn cảnh khi ấy: “Toàn bộ gian bếp chỉ gồm có mỗi chạn bát và lò than thông gió đốt dầu làm bằng ván tồi tàn”. Thế rồi, mẹ không quên thêm câu anh trai hồi bé xinh xắn nên mẹ cùng với bà chủ nhà và mấy người thuê phòng tranh nhau bế. Tôi được sinh ra trong căn nhà đó. Thỉnh thoảng, tôi thử tưởng tượng về khung cảnh ngày ấy. Vì là cuối tháng Hai nên trời vẫn còn se lạnh, gần đến ngày sinh nhà tôi đốt than không ngừng. Sự hiếu kỳ của tôi thường quanh quẩn với những câu hỏi như: “Ai là người đầu tiên đón con ra đời?”, “Mọi người nghĩ gì khi nghe thấy tiếng khóc của con?”

<서울 중림동>, 김기찬(Kim Ki-chan 金基贊), 1990. Jungnim-dong, Seoul” (1990) - Ảnh Kim Ki-chan. 서울 구도심에 위치하고 있는 중림동은 급격히 변모한 이웃 동네들과 달리 아직도 반세기 전 주거 환경의 모습과 정취를 간직하고 있다. 이곳은 좁은 골목과 가파른 계단이 많아 이사하는 주민들은 직접 짐을 꾸려 리어카에 실어 날랐다. Phường Jungnim nằm gần trung tâm thành phố cũ của Seoul. Nơi đây vẫn giữ được dáng vẻ và không khí của một khu phố điển hình vào thập niên 1960; bức ảnh này chụp cảnh người dân trong khu phố vào năm 1990. Ngõ hẻm hẹp và cầu thang dốc vẫn còn khiến cho xe đẩy và sức lực cơ thể là phương tiện di chuyển duy nhất. ⓒ 최경자(Choe Gyeong-ja 崔敬子)
<서울 중림동>, 김기찬(Kim Ki-chan 金基贊), 1990. Jungnim-dong, Seoul” (1990) – Ảnh Kim Ki-chan. 서울 구도심에 위치하고 있는 중림동은 급격히 변모한 이웃 동네들과 달리 아직도 반세기 전 주거 환경의 모습과 정취를 간직하고 있다. 이곳은 좁은 골목과 가파른 계단이 많아 이사하는 주민들은 직접 짐을 꾸려 리어카에 실어 날랐다. Phường Jungnim nằm gần trung tâm thành phố cũ của Seoul. Nơi đây vẫn giữ được dáng vẻ và không khí của một khu phố điển hình vào thập niên 1960; bức ảnh này chụp cảnh người dân trong khu phố vào năm 1990. Ngõ hẻm hẹp và cầu thang dốc vẫn còn khiến cho xe đẩy và sức lực cơ thể là phương tiện di chuyển duy nhất. ⓒ 최경자(Choe Gyeong-ja 崔敬子)

공동 수돗가 – Bể nước chung
내가 태어났던 옛집을 생각하면 마당 한가운데 있던 펌프가 가장 먼저 생각난다. 그 집 마당에는 공동으로 쓰는 수돗가가 있었다. 수도꼭지가 달린 수도 대신 펌프가 있는 수돗가였다. 어머니는 펌프에 마중물을 넣고 힘차게 펌프질을 했고, 지하수가 콸콸 쏟아지면 셋방 아주머니들이 모두 나와 동그랗게 모여 앉아서는 빨래를 했다. 나는 쪽마루에 앉아서 그 광경을 구경하는 게 좋았다. 모두 거기서 순서를 기다려 세수를 하고 이를 닦았다. 하지만 너무 오래된 일이어서 그런 풍경이 진짜 기억인지, 훗날 다른 이미지들이 쌓여 만들어진 착각인지 이제는 알 수 없다.

Nhắc đến nhà cũ, nơi tôi được sinh ra, điều gợi cho tôi nghĩ đến trước nhất là ống bơm nước ở ngay giữa sân. Trong sân nhà ấy có bể nước để mọi người cùng sử dụng. Thay vì nước máy có gắn vòi, bể nước này có gắn máy bơm. Mẹ mồi nước vào máy bơm và ra sức bơm nước, đến khi nước ngầm phun lên, các cô dì thuê nhà chạy ra và ngồi quây tròn giặt quần áo. Tôi thích ngồi trên hiên bên hông nhà ngắm khung cảnh này. Ở đó, tất thảy đều chờ đến lượt mình để rửa mặt và đánh răng. Đó là chuyện từ rất lâu rồi, giờ tôi không biết khung cảnh đó là ký ức thực sự hay do những hình ảnh khác của ngày sau chất chồng mà tạo nên ảo giác.

Bài viết liên quan  전통 부엌, 여성의 삶을 압축한 은유의 공간 - Bếp truyền thống, không gian ẩn dụ thu nhỏ cuộc sống của phụ nữ

나는 그 마당에서 발걸음을 뗐다. 그리고 아장아장 걷다가 나중에는 뛰었다. 마당에 앉아서 손가락으로 그림을 그려 가며 놀았으니, 늘 옷이 더러웠다. 동네 오빠들이 뒷산으로 놀러 가면서 나를 끼어 주지 않아 울었던 기억도 난다. 오빠는 주인집에서 텔레비전을 한 번 본 뒤로 눈만 뜨면 주인집에 갔다. 저녁이 되어 데리러 가면 싫다며 우는 통에 어머니를 민망하게 만든 적이 한두 번이 아니었단다.

Tôi đã bước những bước đi đầu đời ở nơi sân nhà ấy. Tôi chập chững đi rồi chạy. Vì hay ngồi trên sân và dùng tay chơi vẽ tranh nên lúc nào quần áo tôi cũng vấy bẩn. Nhớ có lần tôi khóc nhè vì mấy anh trong xóm rủ nhau ra sau núi chơi mà không chịu dẫn tôi theo. Từ hôm xem ti vi ở nhà bà chủ, cứ mở mắt ra là anh tôi lại chạy sang nhà ấy. Tối mẹ đến dẫn về thì anh bảo, “Không muốn”, rồi khóc toáng khiến mẹ thấy ngượng mấy lần.

그 셋방으로 이사 가던 해에 어머니는 5년 만기 적금을 부었다. 그다음 해에는 4년 만기 적금을, 또 그다음 해에는 3년 만기 적금을 들었다. 그렇게 같은 날 만기가 돌아온 5개의 적금을 타서 새집을 샀다. 오빠가 초등학교에 입학하기 전에 초등학교가 없던 그 동네를 떠나겠다는 어머니의 소원은 그렇게 이루어졌다. 어머니는 “그렇게 악착같이 돈을 모았어도 니들은 하루에 계란 하나씩 꼭 먹였어.”란 말을 백 번도 넘게 말했다.

Năm chúng tôi chuyển đến nhà trọ, mẹ mở một tài khoản tiết kiệm năm năm. Năm sau, bà mở tài khoản bốn năm, năm sau nữa mở tài khoản ba năm, và cứ như vậy. Năm năm trôi qua, đến khi năm tài khoản tiết kiệm đáo hạn cùng một ngày, mẹ rút toàn bộ số tiền và gia đình tôi đã mua được nhà mới. Ước mong của mẹ là gia đình tôi sẽ rời khỏi cái xóm không có trường tiểu học này trước khi anh trai vào lớp một đã thành hiện thực như thế. Mẹ vẫn lặp đi lặp lại đến hơn trăm lần với anh trai và tôi rằng: “Cứ chắt chiu gom góp tiền như vậy, nhưng nhất thiết mỗi ngày phải cho mỗi đứa ăn một quả trứng gà.”

<서울 중림동>, 김기찬, 1980. “Jungnim-dong, Seoul” (1980) - Ảnh Kim Ki-chan. 여자아이들이 노래를 부르며 고무줄놀이를 하고 있다. 예전에는 학교를 마치고 돌아온 아이들이 집 앞 골목에서 해가 질 때까지 어울려 노는 일이 흔했으나, 이제는 보기 힘든 모습이 되었다. Những bé gái đang cùng chơi nhảy dây và ca hát trong hẻm, một cảnh tượng hiếm thấy sau giờ học ngày nay. ⓒ 최경자
<서울 중림동>, 김기찬, 1980. “Jungnim-dong, Seoul” (1980) – Ảnh Kim Ki-chan. 여자아이들이 노래를 부르며 고무줄놀이를 하고 있다. 예전에는 학교를 마치고 돌아온 아이들이 집 앞 골목에서 해가 질 때까지 어울려 노는 일이 흔했으나, 이제는 보기 힘든 모습이 되었다. Những bé gái đang cùng chơi nhảy dây và ca hát trong hẻm, một cảnh tượng hiếm thấy sau giờ học ngày nay. ⓒ 최경자

어머니의 소원 – Ước mong của mẹ
새집은 초등학교 근처였다. 집과 학교가 얼마나 가까웠는지 준비물을 깜빡한 날, 쉬는 시간에 집에 가지러 올 수 있을 정도였다. 그 집으로 이사 가던 날이 어렴풋하게 기억난다. 우선 대문을 열면 마당이 보였다. 마당은 있었지만, 잔디나 나무가 있는 것은 아니었고, 한구석에 화장실만 덩그러니 있을 뿐이었다. 어른들이 이삿짐을 나르는 동안 나는 커다란 나무와 그네가 있는 마당을 상상으로 그려 보았다. 어머니랑 화단을 가꾸는 상상도 해 보았다. 부모님이 사랑하는 딸을 위해 곧 그렇게 해 줄 것만 같았다.

Nhà mới ở gần ngay trường tiểu học. Nhà gần trường đến mức ngày nào quên đồ dùng học tập là có thể tranh thủ chạy về lấy trong giờ giải lao. Tôi lờ mờ nhớ đến ngày chuyển về ngôi nhà ấy. Sau khi mở cổng sẽ thấy sân trước hết. Nơi đó có sân nhưng không có cỏ hay cây cối gì mọc cả, chỉ trơ trọi một cái nhà vệ sinh ở góc sân. Trong khi người lớn bận chuyển hành lý vào nhà, trong đầu tôi đã vẽ ra một cái sân có cây cổ thụ và xích đu thật to. Tôi còn tưởng tượng cả hình ảnh cùng mẹ chăm chậu hoa nữa. Có lẽ bố mẹ sẽ làm như vậy vì con gái yêu.

하지만 현실은 그렇지 않았다. 부모님은 마당을 없애고 그 자리에 가게를 지었다. 집은 볼품없이 반으로 갈라졌고, 어머니는 가게에서 식당을 시작했다. 실망은 그뿐이 아니었다. 방이 세 개나 있었지만, 나는 내 방을 가질 수 없었다. 부모님은 식당에 딸린 방에서 주무셨고, 나와 오빠는 할머니와 함께 안방에서 지냈다. 그리고 나머지 두 개의 방은 세를 주었다. 작은방에 세 든 부부에게는 갓난아이가 있었다. 기저귀를 찬 아이가 마루를 기어 다녔다. 그 아이는 우리 집 마루에서 발걸음을 뗐고, 아장아장 걷다가 뛰기 전에 이사를 갔다.

Bài viết liên quan  쓰레기 잡는 트레쉬버스터즈 - Những người gom rác

Thế nhưng, sự thật lại không như thế. Bố mẹ đã dẹp bỏ sân và xây một cửa hàng ngay trên đó. Căn nhà bị xẻ làm đôi, mẹ bắt đầu làm quán ăn trong cửa hàng. Thất vọng không chỉ dừng lại ở đấy. Trong nhà có tất cả ba phòng, thế mà tôi không có phòng riêng của mình. Bố mẹ ngủ ở phòng trong quán ăn, tôi và anh trai ngủ cùng bà ở gian phòng ngủ chính. Hai phòng còn lại thì cho thuê. Hai vợ chồng thuê phòng nhỏ có em bé. Đứa bé mặc bỉm lăn bò trên sàn. Đứa bé đó đã đặt bước chân đầu đời tại sàn nhà tôi và gia đình ấy chuyển đi trước khi bé chập chững tập chạy.

어머니의 식당은 장사가 잘되었다. 우리 집은 텔레비전을 샀고, 냉장고도 샀다. 그리고 몇 년 후 가게 건물을 2층으로 증축해 방을 3개 더 만들었다. 현관문 왼쪽에 있던 창고를 부수고 거기에도 방을 하나 만들었다. 본격적으로 세를 놓으며 살기 시작한 것이다. 식당 옆에도 가게를 하나 더 만들었는데 거기에 목공소가 들어왔다. 나는 목공소 아저씨가 나무로 만들어 준 칼을 허리춤에 차고 다녔다. 해가 질 때까지 학교 운동장에서 놀았고 그래서 늘 옷이 더러웠다. 어머니는 내 엉덩이를 때리면서 칠칠치 못하다고 혼내곤 했는데 나는 그것도 좋았다. 진짜 엉덩이를 때리는 것이 아니라 엉덩이에 묻은 흙을 털어내려는 것이라는 사실쯤은 알 수 있었다.

Quán ăn của mẹ bán rất chạy. Nhà tôi mua được ti vi, rồi mua tủ lạnh. Mấy năm sau, nhà tôi mở rộng quán lên tầng hai, rồi xây thêm ba phòng nữa. Bố mẹ đập nhà kho ở phía bên trái cửa chính và xây thêm một phòng ở đó. Nhà tôi chính thức bắt đầu làm dịch vụ cho thuê. Bên cạnh quán ăn có xây thêm một cửa tiệm; xưởng mộc đã vào thuê vị trí đó. Tôi gác con dao bằng gỗ do bác thợ mộc làm tặng vào thắt lưng. Tôi thường chơi ở sân vận động trường đến lúc mặt trời lặn, thế nên quần áo lúc nào cũng bẩn. Mẹ thường đánh vào mông tôi và mắng không được để quần áo vấy bẩn, thế mà tôi lại thích chuyện này. Tôi biết mẹ không có ý đánh thật, mà thực ra mẹ chỉ muốn phủi đất dính ở quần cho tôi.

우리 집에 세를 얻은 사람들은 전국에서 왔다. 나는 그들에게 어디에서 왔느냐고 물었고, 그런 다음에 지도에서 그 지역을 찾아보곤 했다. 모두들 마당에 있는 공동 화장실을 사용했으므로 자연스럽게 얼굴을 마주할 수밖에 없었다. 그중 가장 기억이 남는 사람을 고르자면, 단연코 알코올 중독자 아저씨였다. 그의 눈은 늘 충혈돼 있었고, 여름에는 흰색 러닝셔츠와 모시로 된 반바지만 입었다. 나와 눈이 마주치면 친절하게 인사를 했고, 가끔 부인인 듯한 아주머니가 찾아왔는데 그러면 그들은 새벽까지 싸웠다. 아저씨는 그 방에서 죽었고, 그것이 내가 처음으로 본 죽음이었다.

Những người thuê nhà chúng tôi đến từ khắp mọi miền đất nước. Tôi thường hỏi họ quê ở đâu, rồi tìm vị trí khu vực đó trên bản đồ. Tất cả chúng tôi cùng sử dụng nhà vệ sinh chung ở ngoài sân nên dĩ nhiên thường chạm mặt nhau. Trong số đó, nếu hỏi người mà tôi nhớ rõ nhất là ai, thì ắt hẳn đó là chú nghiện rượu. Mắt chú ấy đỏ ngầu. Vào mùa hè, chú mặc mỗi áo thể thao trắng và quần đùi. Chú thân thiện chào hỏi mỗi khi gặp tôi. Thi thoảng có một bà cô, có vẻ là vợ chú ấy tìm đến, rồi họ cãi nhau đến tận sáng. Chú ra đi ở chính gian phòng ấy, và đó là cái chết đầu tiên tôi chiêm nghiệm.

우리 집에 세를 얻은 사람들은 전국에서 왔다. 나는 그들에게 어디에서 왔느냐고 물었고, 그런 다음에 지도에서 그 지역을 찾아보곤 했다. Những người thuê nhà chúng tôi đến từ khắp mọi miền đất nước.
모두들 마당에 있는 공동 화장실을 사용했으므로 자연스럽게 얼굴을 마주할 수밖에 없었다.  Tôi thường hỏi họ quê ở đâu, rồi tìm vị trí khu vực đó trên bản đồ.

<서울 행촌동>, 김기찬, 1974. “Haengchon-dong, Seoul” (1974) - Ảnh Kim Ki-chan. 산업화 시대 초기에는 여러 가족이 한 지붕 아래에서 셋방살이를 하는 다가구 주택이 도시 서민들의 가장 흔한 주거 형태의 하나였다. 이런 주택에는 보통 마당에 공동으로 사용하는 수돗가와 장독대가 있었다. Một trong những kiểu nhà phổ biến nhất vào những năm đầu thời kỳ công nghiệp hóa là dạng nhà có nhiều gia đình thuê các phòng. Những ngôi nhà kiểu này thường có một bồn nước chung và nơi đặt các vại muối tương ngoài sân. ⓒ 최경자
<서울 행촌동>, 김기찬, 1974. “Haengchon-dong, Seoul” (1974) – Ảnh Kim Ki-chan. 산업화 시대 초기에는 여러 가족이 한 지붕 아래에서 셋방살이를 하는 다가구 주택이 도시 서민들의 가장 흔한 주거 형태의 하나였다. 이런 주택에는 보통 마당에 공동으로 사용하는 수돗가와 장독대가 있었다. Một trong những kiểu nhà phổ biến nhất vào những năm đầu thời kỳ công nghiệp hóa là dạng nhà có nhiều gia đình thuê các phòng. Những ngôi nhà kiểu này thường có một bồn nước chung và nơi đặt các vại muối tương ngoài sân. ⓒ 최경자

이야기의 씨앗 – Hạt mầm của câu chuyện
나는 이사를 다녀 보는 것이 소원이었다. 전학생이 늘 부러웠다. 새 학교에 가서 새 친구를 사귀고, 선생님과 함께 교실로 걸어 들어가 낯선 아이들에게 내 이름을 말하는 장면은 상상만 해도 두려운 일이었다. 그런데도 꼭 한번 해 보고 싶었다. 나는 같은 집에서 초·중·고등학교를 다녔다. 그리고 대학생 때 가족과 잠시 떨어져 지내다가 다시 돌아왔다. 그런 후에도 독립을 하지 못하고 계속 그 집에서 살았다.

Bài viết liên quan  한국적이면서 세계적인 국물 요리 순두부찌개 - Canh đậu hũ non, món canh mang đậm phong cách Hàn Quốc và phổ biến trên toàn thế giới

Ước mong của tôi là được chuyển nhà. Tôi luôn thấy ganh tỵ với những bạn học sinh chuyển trường. Chỉ nghĩ tới cảnh đến một trường mới rồi kết bạn mới, bước chân vào phòng học cùng với thầy cô và giới thiệu tên mình trước những đứa trẻ xa lạ hẳn là chuyện đáng sợ. Dẫu vậy, tôi cũng nhất định muốn chuyển đi một lần. Tôi ở mãi một chỗ từ bậc tiểu học, trung học cơ sở, đến phổ thông trung học. Đến khi là sinh viên đại học, tôi tạm thời xa nhà, rồi quay trở về. Sau đó, tôi không tách ra sống riêng mà ở lại trong căn nhà ấy.

오빠가 결혼해서 분가한 뒤 아버지는 오빠 방을 사용했다. 그러다 내가 독립을 하자 아버지는 다시 내 방으로 옮겼다. 오빠의 방은 창고가 되었다. 자식들이 떠난 집에서 두 분이 사시는 것을 보고 나서야 아버지도, 어머니도 이제야 처음 자신만의 방을 써 보는 것이란 생각이 들었다. 8남매였던 어머니는 한 번도 혼자 방을 써 본 적이 없었고, 5남매였던 아버지도 그러했다. 그 후로 나는 길을 가다 부모님 연세의 어른들을 보면 이런 상상을 자주 하곤 했다. 저분은 언제 자기만의 방을 가졌을까? 우리 부모님처럼 형제가 많은 집에서 태어나 단칸방에서 신혼 생활을 시작했을까? 그러다 아이들을 낳고, 그 아이들에게 방을 만들어 주려고 악착같이 돈을 모으고, 『소년소녀 세계명작전집』 같은 책들을 사 주었을까? 70년 혹은 80년 넘는 세월 동안 단 한 번도 자기 방을 가져 보지 못한 분들도 있을 것이다. 어떤 이들은 배우자 중 어느 한쪽이 죽고 난 뒤에야 혼자 방을 쓰기 시작했을지도 모른다.

Sau khi anh trai lấy vợ và ở riêng, bố chuyển sang dùng phòng của anh. Đến khi tôi rời nhà ra sống riêng, bố chuyển sang phòng tôi. Phòng anh trai trở thành nhà kho. Chỉ khi con cái lần lượt chuyển đi xa, lần đầu tiên bố mẹ mới có phòng riêng. Mẹ sinh ra trong gia đình có tám anh chị em và chưa từng có phòng riêng. Gia đình bố có năm anh chị em nên cũng không khác gì. Về sau, mỗi lần đi trên đường và bắt gặp những cô chú tầm tuổi bố mẹ, tôi thường liên tưởng đến chuyện này. Mấy cô chú này khi nào mới có phòng riêng? Phải chăng họ cũng sinh ra từ gia đình đông con, cũng bắt đầu cuộc sống vợ chồng ở phòng thuê như bố mẹ tôi? Họ sinh con đẻ cái, cần mẫn góp nhặt tiền của để xây phòng cho những đứa con của họ chăng? Họ có mua những cuốn sách như “Tuyển tập các tác phẩm nổi tiếng thế giới” cho con họ không? Có những người trong suốt 70 năm, 80 năm cuộc đời cũng chưa một lần có phòng riêng. Không biết chừng có người chỉ có phòng riêng sau khi người bạn đời của họ lìa xa cũng nên.

부모님은 여전히 그 집에 사시는데, 돈이 생길 때마다 방을 늘려 세를 준 결과 집이 이상한 모양이 되었다. 이제는 동네도 낡았고 세도 잘 나가지 않는다. 나는 10여 년 전쯤 아파트로 독립을 했다. 그래도 부모님 집으로 자주 밥을 먹으러 간다. 몇 년 동안은 12월 31일이면 부모님 집에 가서 잠을 잤다. 아침에 일어나 “새해 복 많이 받으세요.” 하고 인사를 하고 싶었기 때문이었다. 하지만 그 결심은 오래가지 않았다. 점점 내 집이 편해지기 시작했고, 이제 나는 부모님 집에서 잠을 자는 일이 거의 없다.

Bố mẹ tôi vẫn sống ở trong ngôi nhà ấy, kết quả của mỗi lần có tiền xây thêm phòng cho thuê là ngôi nhà có hình dạng khác thường. Giờ đây, xóm tôi đã cũ và phòng cho thuê không còn đắt khách. Tôi ra sống riêng ở căn hộ chung cư từ 10 năm trước. Dẫu vậy, tôi vẫn thường xuyên về nhà bố mẹ ăn cơm. Suốt mấy năm liền, tôi về nhà bố mẹ ngủ vào đêm ba mươi tháng chạp hàng năm. Bởi vì tôi muốn thức dậy chào bố mẹ câu “Chúc mừng năm mới” vào buổi sáng. Thế nhưng, quyết tâm đó cũng không duy trì được bao lâu. Dần dà, tôi thấy nhà mình thoải mái hơn. Đến giờ, hầu như không còn chuyện tôi về nhà bố mẹ ngủ.

그 집에서 마흔 살이 되도록 살았는데, 지금은 이상하게도 어린아이였던 때의 기억만 떠오른다. 어느 날 골목길에서 아이들하고 고무줄놀이를 하고 있을 때 오빠가 달려와 귓속말로 “왔어.”라고 말했다. 며칠 전부터 기다리던 컬러 텔레비전이 왔다는 얘기였다. 그때 그 기쁨은 아직도 선명하다. 나는 최선을 다해 집으로 달렸다. 가쁜 숨을 몰아쉬며 컬러 텔레비전을 구경하던 꼬마 아이가 여전히 그 집에 살아 있는 것만 같다. 이사를 오고 이사를 가던 사람들, 부부 싸움을 하고, 이혼을 하고, 야반도주를 하고, 또 경찰에 잡혀가던 사람들이 나의 이웃들이었다. 현관문은 올록볼록한 유리로 되어 있었는데 그걸 통해 밖을 내다보면 한 사람이 수십 명으로 보였다. 나는 그런 식으로 사람들을 구경했다. 그것이 내 소설의 씨앗이 되었다. 나는 그렇게 이야기를 만들었다.

Tôi sống trong căn nhà ấy đến năm 40 tuổi, nhưng thật kỳ lạ là tôi chỉ nhớ những ngày thơ ấu ở đó. Một ngày, khi đang chơi nhảy dây với mấy đứa bé trong hẻm, anh trai chạy lại thì thầm vào tai tôi: “Đến rồi!”. Đó là chuyện chiếc ti vi màu mà chúng tôi ngóng trông từ mấy hôm trước đã đến. Niềm hân hoan khi ấy vẫn còn rõ nét. Tôi gắng hết sức chạy về nhà. Hình ảnh đứa bé vừa ngắm ti vi vừa thở hổn hển dường như vẫn đang còn hiện diện trong ngôi nhà ấy. Những người chuyển đến rồi đi, đôi vợ chồng cãi nhau đòi ly hôn, bỏ chạy trong đêm và bị cảnh sát bắt giữ đều là những người hàng xóm của tôi. Trên cổng nhà có chiếc mắt kính thần, từ đó nhìn ra sẽ thấy hàng chục người ngoài đường. Tôi ngắm mọi người theo cách này. Đây chính là hạt mầm tiểu thuyết của tôi. Tôi đã tạo nên câu chuyện như thế đấy.

윤성희(Yoon Sung-hee 尹成姬) 소설가
Yoon Sung-hee, Nhà văn

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here